Tin Tức

Top 13 Loài động vật không có não trên thế giới

1


Hoàng Thu Thuỷ

Nhím biển

Nhím biển là loài động vật có đầu nhọn, nhiều gai và bất kỳ người đi biển nào đi chân trần đều có thể phát hiện ra điều này theo cách tồi tệ nhất. May mắn thay, bên ngoài Nam Florida, nhím biển không độc. Sinh vật này có vô số chân và kiểm soát việc kiếm ăn bằng hệ thống mạch nước của nó. Hệ thống đó thay đổi lượng áp suất và nước trong cơ thể của nó, cho phép nó di chuyển nhanh hơn. Miệng của sinh vật nằm bên dưới nó. Chúng tống phân ra khỏi đầu cơ thể. Nhím biển ngồi trên đá, cào và ăn tảo. Theo nhiều cách, hành động này giữ cho đại dương sạch sẽ.

Con nhím biển hay còn được gọi dưới cái tên là nhum biển hay cầu gai biển. Đây là loại hải sản sống ở dưới biển và có ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở vùng khí hậu nhiệt đới. Con nhím biển được mệnh danh là nhân sâm của biển cả bởi những tác dụng to lớn về sức khỏe mà nó mang lại. Thêm nữa là giá cả của cầu gai biển hoàn toàn phải chăng và vừa vặn với túi tiền của đại đa số người dân nước ta.

Nhím biển hay cầu gai biển có tên khoa học là Echinoidea, thuộc lớp động vật có da gai, thường sống ở dưới biển hoặc hay bám vào các mỏm đá ven biển. Cầu gai biển có hình dạng tròn như trái bóng, lớp ngoài phủ chi chít các gai có màu đen giống như loài nhím vậy. Khi lớn lên, con nhím biển phát triển to ra và có kích cỡ to với trái cam sành, nhỏ hơn trái bưởi một chút.

Vào mùa sinh sản của cầu gai biển là từ tháng 3 cho tới hết tháng 7 âm lịch hằng năm. Vậy nên nếu bạn đi du lịch biển vào thời gian này thì bạn sẽ có cơ hội được thưởng thức đặc sản con nhím biển nướng hoặc các món ăn khác làm từ cầu gai biển. Các vùng biển thường có con nhím biển gồm có vùng biển Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc,….

Nhím biển
Nhím biển


2


Hoàng Thu Thuỷ

Hải sâm

Hải sâm hình giun ăn sinh vật phù du ở khắp mọi nơi. Hải sâm cực kỳ nguy hiểm nhưng nếu không có não, chúng không nhất thiết là một mối đe dọa có chủ ý. Chúng có khả năng giải phóng một chất độc hại gọi là holothurin, có thể khiến con người mù lòa vĩnh viễn. Hải sâm kiếm ăn theo bản năng, sử dụng các chân hình ống quanh miệng để bắt và lấy thức ăn. Chế độ ăn của chúng bao gồm động vật không xương sống dưới nước, tảo và chất thải. Thật kỳ lạ, trong khi chúng thiếu cơ sở để thậm chí nhận ra điều đó, những sinh vật biển này lại biểu hiện sinh sản vô tính và hữu tính.

Hải sâm tên gọi dân gian là đỉa biển hay còn gọi là con rum hay đồn đột là tên gọi chung của một nhóm động vật biển thuộc lớp Holothuroidea với thân hình dài và da có lông, có xương trong nằm ngay dưới da, sống trong lòng biển trên khắp thế giới. Tên tiếng Anh của loài này là Sea cucumber nghĩa là dưa chuột biển do thân hình loài vật này giống quả dưa chuột, và trong tiếng Pháp, loài này được gọi là Bêche-de-mer nghĩa là cá mai biển.

Hải sâm là loài vật chuyên ăn xác chết của động vật dưới biển, là vệ sinh viên của biển. Thức ăn của chúng là loài phù du và các chất hữu cơ tìm thấy dưới biển. Một trong những cách chúng bắt mồi là nằm trong sóng và bắt những loài trôi trong đó bằng các xúc tu khi các xúc tu mở ra. Có thể tìm thấy chúng với số lượng lớn ở cạnh các trang trại nuôi cá biển của con người.

Hải sâm sinh sản bằng cách phóng tinh trùng và trứng vào nước biển. Tùy vào điều khiện thời tiết, một cá thể có thể sản xuất hàng ngàn giao tử.

Hải sâm
Hải sâm

3


Hoàng Thu Thuỷ

Sứa

Sứa là loài di chuyển theo dòng hải lưu. Chúng cũng phun nước có thể di chuyển chúng về phía trước. Sứa hoạt động thông qua một mạng lưới các dây thần kinh cảm giác. Xúc tu phản ứng với các vật thể lạ bằng một đốt. Vết đốt đó tiết ra một loại độc tố có khả năng vô hiệu hóa hoặc giết chết kẻ xâm nhập.

Sứa không có não, tim, tai, đầu, chân hay xương. Lớp da của chúng mỏng đến mức chúng có thể hô hấp qua nó. Tuy sứa không có não, nhưng chúng có một hệ thống thần kinh sơ cấp với các cơ quan thụ cảm có khả năng phát hiện ánh sáng, sự dao động và các hóa chất có trong nước. Những khả năng trên cùng với cảm giác đối với trọng lực giúp cho sứa có thể định hướng và di chuyển trong nước một cách dễ dàng.

Vì không có não, chuyển động của sứa bị hạn chế, phụ thuộc vào các dòng hải lưu. Sứa cũng không chủ động săn bắt thức ăn mà chỉ chờ các con mồi chạm trán chúng. Xúc tu bao phủ bởi các tế bào đặc biệt gọi là Cnidoblasts, dùng để săn bắt và tự vệ.

Về cơ bản, sứa hoạt động không cần tim. Lớp vỏ ngoài của sứa gọi là Ectoderm, oxy đơn giản khuếch tán vào cơ thể chúng, không cần hoạt động bơm máu để lấy oxy từ tim. Ngoài ra, hệ thống tiêu hóa của sứa rất thô sơ. Cả hai quá trình hô hấp và hấp thụ chất dinh dưỡng không cần đến bộ phận phức tạp như tim.

Sứa còn có một bộ phận giống như một cái ống ngắn được treo ở giữa cơ thể hình cái chuông của nó. Cái “ống” này đóng vai trò của cả miệng và cơ quan tiêu hóa. Ở một số loài sứa, cái “ống” này còn được bao bọc bởi một miếng diềm giống như một dải duy băng xoắn trong nước. Chúng còn được gọi là vũ khí miệng hay cánh tay miệng.

Sứa
Sứa

4


Hoàng Thu Thuỷ

San hô

San hô và sứa là một phần của họ Cnidarians. Cơ thể của chúng không đối xứng và cả hai đều chích kẻ thù của mình. Được xếp vào nhóm thực vật, san hô thực sự là một loài động vật sống không có não. Đây là sự khác biệt tuyệt vời giữa thực vật và động vật: động vật tìm kiếm thức ăn; nhà máy tự sản xuất. San hô tham gia cùng động vật tìm kiếm thức ăn. Chúng tạo nên rất nhiều sinh vật nhỏ bé. Những polyp san hô này gặm nhấm các sinh vật phù du sống sót trong đại dương. San hô bắt sinh vật phù du bằng các xúc tu có thể thu vào của chúng và sau đó chúng kiếm ăn.

Một “đầu” san hô thực tế được tạo từ hàng ngàn cá thể polip có cấu tạo gen giống hệt nhau, mỗi polip chỉ có đường kính vài milimet. Sau hàng ngàn thế hệ, các polip này để lại một khung xương là đặc trưng về loài của chúng. Mỗi đầu san hô phát triển nhờ sự sinh sản vô tính của các polip. San hô còn sinh sản hữu tính bằng các giao tử, được giải phóng đồng thời trong một thời kì từ một đến vài đêm liên tiếp trong kì trăng tròn.

Tuy san hô có thể dùng các tế bào châm (nematocyst) tiết chất độc tại các xúc tu để bắt phù du, loại động vật này thu nhận phần lớn dưỡng chất từ loại tảo đơn bào cộng sinh có tên tảo vàng đơn bào (zooxanthella). Do đó, hầu hết san hô phụ thuộc vào ánh sáng mặt trời và phát triển ở các vùng nước trong và nông, thường ở độ sâu không tới 60 m (200 ft). San hô có thể đóng góp lớn cho cấu trúc vật lý của các rạn san hô phát triển ở những vùng biển nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, chẳng hạn như rạn san hô Great Barrier ở ngoài khơi bang Queensland, Úc.

Các loại san hô khác không cần đến tảo và có thể sống ở vùng nước sâu hơn, chẳng hạn các loài trong chi Lophelia nước-lạnh sống được tới độ sâu 3.000m ở Đại Tây Dương. Một ví dụ khác là Darwin Mounds ở phía tây nam Cape Wrath, Scotland. San hô còn được tìm thấy ở ngoài khơi bang Washington và quần đảo Aleutian ở Alaska, Mỹ.

San hô
San hô

5


Hoàng Thu Thuỷ

Sao biển

Sao biển là anh em họ của nhím biển. Nhưng nó không phải là một con cá. Sự thật là loài này không biết bơi. Sao biển dành toàn bộ thời gian ở dưới đáy đại dương. Mặc dù bạn có thể tìm thấy chúng trôi nổi hoặc dạt vào bờ biển, nhưng đó không bao giờ là sự lựa chọn! Ở cuối mỗi cánh tay, các sinh vật có đôi mắt nhỏ bé dùng để phân biệt bóng tối và ánh sáng. Sao biển không có công dụng đối với não. Nó sử dụng các cảm biến cơ bản để cảnh giác kẻ thù và thức ăn. Sao biển có từ năm đến 40 cánh tay đầy gai nhọn. Nếu một kẻ săn mồi cắn đứt một (hoặc hai) cánh tay, con vật có thể tái sinh chúng.

Sao biển chiếm vai trò quan trọng trong suốt sinh thái học và sinh học. Sao biển, chẳng hạn như sao biển Pisaster ochraceus đã trở thành phổ biến rộng rãi như các ví dụ về loài chủ chốt trong hệ sinh thái. Sao biển Acanthaster planci là một kẻ săn mồi phàm ăn của san hô trên khắp khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Con sao biển khác, chẳng hạn như các thành viên của Asterinidae, thường được sử dụng trong sinh học phát triển.

Hầu hết các loài sao biển đều có các cá thể đực và cái riêng biệt. Chúng thường không thể phân biệt được bên ngoài vì không thể nhìn thấy các tuyến sinh dục, nhưng giới tính của chúng thì rõ ràng khi chúng đẻ trứng. Một số loài là lưỡng tính đồng thời, sản xuất trứng và cả tinh trùng cùng một lúc và trong một số ít loài này, cùng một tuyến sinh dục, được gọi là vòi trứng, tạo ra cả trứng và tinh trùng. Sao biển khác là những loài lưỡng tính tuần tự.

Một số loài sao biển có khả năng tái tạo các cánh tay đã mất và có thể mọc lại toàn bộ chi mới trong một thời gian nhất định. Tuổi thọ của sao biển khác nhau đáng kể giữa các loài. Đa phần các loài có trọng lượng lớn hơn thì có tuổi thọ sống lâu hơn. Tuổi trung bình của sao biển khoảng 10 năm và kỷ lục sống lâu nhất được ghi nhận trên thế giới là 34 năm tuổi.

Sao biển
Sao biển

6


Hoàng Thu Thuỷ

Ngao

Ngao là loài nhuyễn thể không có não và có thân nén bên trong là một cặp vỏ có bản lề. Các họ khác trong họ bao gồm hàu, trai và sò điệp. Ngao có thể mở và đóng vỏ của chúng. Ngao quản lý để hoạt động nhờ vào hệ thống thần kinh của nó. Chúng phổ biến trong thế giới đánh bắt vì ngao rất dễ đánh bắt và sống ở khắp nơi trên thế giới. Ngao có thận, dạ dày, miệng, hệ thần kinh và tim đập.

Ngao sử dụng những phương pháp hấp dẫn để lấy và tiêu thụ thức ăn của chúng. Thứ nhất, trai có thể di chuyển một chút với sự trợ giúp của “bàn chân”. Chúng sử dụng cơ hình nón này để định vị tốt hơn trong nước để lấy dinh dưỡng. Chúng không tự liên kết với chất nền như hàu; chúng sẽ tìm thấy một khu vực có nhiều thức ăn và đào hang đủ để ở trong khi chúng kiếm ăn.

Ngao lấy thức ăn bằng cách lọc nước qua một xi phông nạp vào và một xi phông thở ra trong cơ thể chúng. Thức ăn đi qua mang của chúng bị mắc kẹt trong một chất nhầy dính, di chuyển qua hành động của tế bào đến vòm miệng và sau đó đến miệng của ngao. Sinh vật phù du, tảo và chất hữu cơ được tiêu thụ theo cách này.

Ngao cũng có một phương pháp khác để lấy dinh dưỡng. Một số loài trai phát triển mối quan hệ cộng sinh với tảo, chẳng hạn như Zooxanthellae. Loại tảo này sống trong lớp vỏ của trai. Trong khi nhuyễn thể hấp thụ và cung cấp nitơ cần thiết cho tảo để phát triển mạnh, tảo cung cấp cho ngao nhiều chất dinh dưỡng khác nhau.

Ngao
Ngao

7


Hoàng Thu Thuỷ

Sò tai tượng

Sò tai tượng hay sò tượng, là loài thân mềm không có não và có hai mảnh vỏ lớn nhất. Sò tai tượng là một trong những loài sò đang bị đe dọa nghiêm trọng nhất. Chúng là một trong số các loài sò lớn có nguồn gốc từ các rạn san hô nông của Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, có thể nặng hơn 200 kg (440 lb), chiều ngang do được 120 cm (47 in), và có tuổi thọ trung bình trong tự nhiên 100 năm trở lên. Chúng cũng được tìm thấy ngoài khơi bờ biển Philippines, nơi chúng được gọi là taklobo, và tại Biển Đông ở các rạn san hô của Sabah (Đông Malaysia).

Sò tai tượng được Tảo Zooxanthellae cung cấp một lượng thức ăn khổng lồ, những thực vật đơn bào được Tảo Zooxanthellae hấp thụ sau đó chuyển hóa và bổ sung vào chất dinh dưỡng cho Sò tai tượng. Đó là lý do khiến chúng có được kích thước khổng lồ mặc dù sống ở vùng biển nghèo thức ăn. Các cá thể Sò tai tượng này cũng sẽ nuôi lại tảo bằng một vòng tuần hoàn chất dinh dưỡng giúp mối quan hệ cộng sinh này không thể tách rời.

Lý do chính khiến Sò tai tượng đối mặt với sự tuyệt chủng trong tương lai gần chính là con người. Các nhà khoa học Mỹ và Ý đã tiến hành hàng loạt thí nghiệm và nhận thấy phần thịt của Sò tai tượng rất giàu các axit amin giúp kích hoạt các kích thích tình dục ở con người, cùng hàm lượng kẽm cao (dễ sản xuất Testosterone). Điều này dẫn tới việc khai thác quá mức Sò tai tượng để lấy thịt. để làm các món ăn đặc biệt tại Trung Quốc, Nhật Bản (Món Himejako), Pháp, một số quốc gia Đông Nam Á và Thái Bình Dương. Trên chợ đen, vỏ Sò tai tượng được bán dưới dạng đồ trang trí, thủ công mỹ nghệ.

Từ năm 1985-1992 chính phủ Úc đã tiến hành nhiều dự án nuôi trồng, bảo vệ và nhân giống Sò tai tượng tại Trung tâm Nuôi trồng Micrones, Cộng Hòa Palau (Thái Bình Dương) dưới sự quản lý của Đại học James Cook. Cương trình này nhằm giữ lại nguồn gen quý hiếm, bảo tồn loài động vật lớn nhất họ nhà Ngao trong tương lai. Trong môi trường nhân tạo, chúng được cung cấp thức ăn, chăm sóc trong điều kiện lý tưởng để nhanh chóng sinh sản trong thời gian dài, tới khi đủ lớn sẽ đặt vào rạn san hô ngoài tự nhiên.

Sò tai tượng
Sò tai tượng

8


Hoàng Thu Thuỷ

“Portuguese Man-of-War” – Thủy tức

Bạn có nghĩ rằng, những chiếc “phao cánh buồm” kia với hình dáng trong suốt, căng phồng kia là một loài sứa không? Nhưng không phải! Ngay cả đến các nhà khoa học cũng chia sẻ rằng: Nhìn thì rất giống sứa nhưng hóa ra lại là những con thủy tức ống.

Thủy tức ống là loài không não, chúng có ngoại hình giống như những chiếc phao cánh buồm, mỏng manh, trôi nổi vô định trên bề mặt đại dương bao la. Chúng ta có thể gặp loài thủy tức ống này nhiều hơn từ tháng 9 đến tháng 12. Thủy tức ống được tìm thấy ở hầu hết các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, chiếc phao hình buồm của chúng có thể nổi trên mặt nước tới 15 cm. Ẩn bên dưới chiếc phao căng phình đó là hàng ngàn những sợi dài gồm các xúc tu và các khối polyp, có thể dài tới 50 mét.

Thủy tức có khoang ruột rõ ràng và phát triển phương cách tiêu hóa ngoại bào, cắt thức ăn thành các mảnh nhỏ trong ruột để thực hiện nội bào (tiêu hóa nội bào). Ruột (túi tiêu hóa) của thủy tức lại chỉ có một đầu ra (vừa là miệng, vừa là hậu môn), khi ăn một thức ăn to, chúng phải tiêu hóa hết rồi phun ra những gì không tiêu hóa được thì mới ăn tiếp cái khác. Vì vậy, chúng không thể lưu trữ thức ăn lâu trong cơ thể và phải tận dụng tiêu hóa nội bào để tiêu hóa nhanh đám thức ăn vừa đưa vào cơ thể.

Toàn thân thủy tức có hình trụ dài, phần dưới thân có đế để bám vào giá thể, phần trên là lỗ miệng, xung quanh có 8 tua miệng tỏa ra rất dài gấp nhiều lần chiều dài cơ thể và có khả năng co ngắn lại, có chức năng bắt mồi, di chuyển và cảm giác. Cơ thể đối xứng tỏa tròn, dài và nhỏ.

Tua miệng thủy tức chứa nhiều tế bào gai có chức năng tự vệ và bắt mồi. Khi đói, thủy tức vươn dài đưa tua miệng khắp xung quanh. Khi chạm phải mồi (chẳng hạn rận nước) thì lập tức tế bào gai ở tua miệng phóng ra làm tê liệt con mồi. Vòi tua có gai dính con mồi đưa vào miệng rồi nuốt vào bụng rồi thực hiện quá trình tiêu hóa nội bào.

“Portuguese Man-of-War” – Thủy tức

9


Hoàng Thu Thuỷ

Bọt biển

Bọt biển hay còn gọi là động vật thân lỗ, chúng không có hệ thần kinh, hệ tiêu hóa và hệ tuần hoàn. Thay vào đó, hầu hết số này dựa vào việc duy trì dòng chảy liên tục qua cơ thể để lấy thức ăn, oxy cũng như loại bỏ chất thải. Một sự thật thú vị về bọt biển là chúng có thể “hắt hơi” trong nước. Khi có vật lạ nào xâm nhập vào hệ thống, chúng sẽ lập tức lấy thêm một lượng nước và phun ra để loại bỏ sinh vật lạ tương tự như việc hắt hơi của con người. Mặc dù bọt biển không có bộ não nhưng nó vẫn có thể nhận thức về môi trường xung quanh theo một cách đặc biệt nào đó.

Mặc dù hầu hết mọi người có thể quen thuộc với các thuật ngữ “động vật ăn tạp” và “động vật ăn thịt”, nhưng lại không áp dụng cho bọt biển. Bọt biển có bộ phận nạp thức ăn lọc và cho phép nước chảy qua chúng một cách thụ động, bắt giữ bất kỳ thức ăn nào đi qua. Vì phần lớn thức ăn này là vi khuẩn và sinh vật phù du, nên nó có nguồn gốc là tế bào đơn. Những động vật lọc sự sống siêu nhỏ và mảnh vụn làm thức ăn được gọi là động vật ăn hại, vì nó đặc trưng hơn cho thị trường ngách độc nhất của chúng.

Trong môi trường sống tự nhiên của chúng, bọt biển hút nước và ăn các sinh vật cực nhỏ. Hầu hết mọi người đều quen thuộc với sinh vật phù du, nhưng bọt biển cũng ăn vi rút và vi khuẩn lơ lửng trong nước. Nhiều loài động vật chủ yếu ăn các sinh vật cực nhỏ trong đại dương vì nó quá dồi dào. Trên thực tế, nếu bạn cân tất cả sự sống cực nhỏ trong đại dương, nó sẽ chiếm 90% tổng sinh khối.

Ngoài sinh vật phù du, bọt biển ăn vi khuẩn, vi rút, vi khuẩn cổ, sinh vật nguyên sinh và nấm. Mặc dù (hầu hết) các sinh vật đơn bào không thể nhìn thấy, nhưng bọt biển có thể tiêu hóa chúng khi chúng trôi qua. Có vẻ như không có nhiều điều đang xảy ra, nhưng một muỗng cà phê nước biển có thể là nơi trú ngụ của 100 triệu vi rút.

Bọt biển
Bọt biển

10


Hoàng Thu Thuỷ

Hàu

Là loài động vật không có não họ hàng với ngao, hàu nổi tiếng với những viên ngọc trai quý giá trong vỏ của nó. Nhưng đó là một cuộc truy tìm kho báu vì tỷ lệ tìm thấy một viên ngọc trai hoàn hảo của bạn là khoảng một phần triệu. Hàu lọc nước và loại bỏ các phần tử hữu cơ – như sinh vật phù du – để ăn chúng. Chúng có thể lọc tới 50 gallon nước mỗi ngày, cung cấp cho chúng đủ thức ăn để tồn tại trong một thời gian.

Hàu là loài động vật nhuyễn thể thuộc nhóm thân mềm hai mảnh vỏ trong họ hàng nghêu, sò, ốc, hến sống ở bờ biển, các ghềnh đá ven bờ biển hay các cửa sông, sống bám vào một giá thể như bám vào đá thành tảng, các rạn đá, móng cầu ăn sinh vật phù du và các sinh vật khác trong bùn, cát, nước biển… Hàu cũng được coi là một loại hải sản sống dưới nước. Thịt hàu ngon và ngọt, rất giàu chất dinh dưỡng, có chứa protein, glucid, chất béo, kẽm, magiê, calci… Hàu có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái vì chúng lọc tạp chất từ nước và là nguồn thực phẩm cho cộng đồng dân cư ven biển. Phần lớn (75%) loài hàu sinh sống trong môi trường tự nhiên trên thế giới được tìm thấy ở 5 địa điểm thuộc Bắc Mỹ.

Hàu có kích thước tương đối lớn so với các loài nghêu và sò nhỏ, đặc biệt là mảnh vỏ của hàu lớn hơn nhiều so với cơ thể của chúng. Cá biệt có trường hợp đã phát hiện con hàu có chiều ngang 18 cm và nặng gần 1,4 kg tại cảng Plymouth, Anh. Theo Douglas Herdson thì một con cái có kích cỡ tương đương có khả năng đẻ hơn ba triệu trứng.

Một số loài hàu như Ostrea lurida hay Ostrea edulis là động vật lưỡng tính, cơ quan sinh dục của chúng chứa cả trứng và tinh trùng. Tỷ lệ đực/cái của hàu cửa sông (Crassostrea rivularis) như sau: Từ tháng 7 đến tháng 11, tỷ lệ đực/cái là 21-61%/ 40-68%. Đây là thời điểm mà tỷ lệ hàu có sản phẩm chín muồi cao nhất. Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tỷ lệ đực/cái là 38-90%: 0-16%. Mùa sinh sản của hàu vào khoảng từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm. Loài hàu có thể sống đến 30 năm.

Hàu
Hàu

11


Hoàng Thu Thuỷ

Huệ biển

Huệ biển hay còn được gọi là hoa muống biển giống là loài động vật biển có thuộc lớp Crinoidea của động vật. Chúng ngồi bất động dưới đáy đại dương trong suốt cuộc đời. Cũng có nghiên cứu cho thấy hoa muống biển có khả năng trôi đến một địa điểm mới khi nó không còn có thể tìm thấy thức ăn. Nếu cần, chúng có thể di chuyển với vận tốc lên tới 140 dặm một giờ.

Huệ biển có họ hàng với sao biển, nhím biển và hải sâm. Con vật có một cái miệng nhỏ ở giữa cơ thể và nó ăn chủ yếu là phân động vật trôi xuống đáy đại dương. Vì vậy, giống như một số loài động vật khác trong danh sách này, loài huệ biển làm nhiệm vụ của mình theo bản năng để giữ sạch đại dương. Thông thường, huệ biển có thể dài tới 30 inch, mặc dù các hóa thạch cho thấy chúng đã lớn tới 80 feet.

Đặc điểm đặc trưng của huệ biển có 1 miệng ở trên cùng được bao quanh bởi các cánh tay. Chúng có ruột hình chữ U, và hậu môn của chúng nằm bên cạnh miệng. Mặc dù bản mẫu cơ bản có 5 cánh tay cân đối, hầu hết huệ biển có nhiều hơn năm cánh tay. Huệ biển thường có một thân cây sử dụng để gắn bản thân vào một chất nền, nhưng có nhiều con chỉ gắn vào một chỗ lúc vị thành niên rồi bơi tự do lúc trưởng thành. Chỉ còn khoảng 600 loài huệ biển còn tồn tại, nhưng số lượng của chúng rất dồi dào và đa dạng trong quá khứ. Một số lớp đá vôi dày niên đại khoảng giữa đến cuối thời kỳ Đại Cổ sinh gần như hoàn toàn được tạo thành bởi mảnh vỡ huệ biển.

Huệ biển gồm có ba phần cơ bản; thân, đài hoa, và cánh tay. Thân bao gồm xương có độ rỗng cao được kết nối bằng mô chằng. Đài hoa có hình chiếc cốc chứa bộ phận tiêu hoá và cơ quan sinh sản của huệ biển, miệng nó nằng chính giữa phía trên, còn hậu môn nằm xung quanh nó điều này không thường có với các động vật da gai khác. Cánh tay chia làm năm phần hoặc đối xứng và bao gồm các xương nhỏ hơn thân và đang được trang bị với lông mi hỗ trợ việc ăn uống bằng cách di chuyển cách chất hữu cơ từ cánh tay về miệng.

Phần lớn huệ biển sống đều có thể bơi tự do và có cuống biến mất. Những loài sống dưới biển xâu vẫn còn giữ lại cuống dài đến 1 mét (3,3 ft), mặc dù nó thường nhỏ hơn rất nhiều. Thân cây mọc ra từ phía sau miệng, giống hình thức hình thành mặt trên của các động vật ở con sao biển và nhím biển, vậy nên huệ biển ngược với hầu hết các loài động vật da gai khác. Đế của cuống bao gồm một bộ phận hút hình đĩa. Phần cuống thường gắn có các lông gai gắn với nó.

Hoa muống biển
Hoa muống biển

12


Hoàng Thu Thuỷ

Hải quỳ

Hải quỳ là một loài động vật không não khác có ngoại hình giống thực vật. Tuy nhiên, hải quỳ sống rất nhiều và tìm kiếm thức ăn, chúng sử dụng các xúc tu dài của mình để bắt và ăn. Một đặc điểm độc đáo của hải quỳ là khả năng thay đổi hình dạng. Hành động này được thực hiện bằng cách rút lại và xoay các cơ dài trong xúc tu của nó. Đó là một điều đáng kinh ngạc khi chúng thay đổi hình dạng và hình dạng trong khi lắc lư trong nước. Nó chỉ ra cách, mặc dù thiếu não, động vật có thể sử dụng các cảm biến để phản ứng với môi trường xung quanh.

Hải quỳ là một nhóm động vật săn mồi sống dưới nước thuộc bộ Actiniaria. Chúng được xếp vào ngành Cnidaria, lớp Anthozoa, phân lớp Hexacorallia.[1] Anthozoa thường có các polyp lớn cho phép tiêu hóa con mồi lớn hơn và cũng thiếu giai đoạn medusa. Là động vật thích ty bào, hải quỳ có quan hệ gần gũi với san hô, sứa và Ceriantharia và thủy tức.

Hải quỳ có cấu tạo khá thú vị. Nó có thân dạng ống có đường kính khoảng 1-5cm, chiều dài khoảng 1.5-10cm. Do có cơ chế ‘bơm hơi’ nên hải quỳ có thể thay đổi được về kích thước. Một số loài hải quỳ có kích thước khá lớn như Urticina columbiana và Stichodactyla mertensii có kích thước có thể lên tới 1m.

Xung quanh miệng của hải quỳ là các xúc tu hình túi có những tế bào có gai cnidocytes. Các tế bào này vừa để phòng thủ, vừa để tấn công các con mồi. Tại sao có thể tấn công và phòng thủ? Có điều này bởi lẽ trong các tế bào cnidocytes có chứa các tuyến trùng chứa nọc độc. Chỉ cần một cú chạm, tế bào trong cơ thể kẻ thù hoặc con mồi sẽ bị phá vỡ từ đó khiến kẻ thù và con mồi bị tê liệt.

Bên cạnh đó, dạ dày của hải quỳ khá lớn vì vậy dù con mồi có lớn tới đâu thì nó vẫn có thể nuốt trôi. Hải quỳ có cấu tạo khoang ruột không hoàn chỉnh. Bởi lẽ chỉ có lỗ mở duy nhất dùng để cắn nuốt con mồi và thải chất thải ra bên ngoài. Miệng của chúng có hình dạng dẹt, có rãnh ở 1 hoặc 2 đầu. Các rãnh này có chưa các siphonoglyph giúp di chuyển thức ăn dễ dàng hơn đến khoang gastrovascular.

Hải quỳ
Hải quỳ

13


Hoàng Thu Thuỷ

Hải tiêu (sea squirt)

Hải tiêu (sea squirt). Ấu trùng hải tiêu có một bộ não, tuy nhiên khi bắt đầu trưởng thành và bám cố định vào một vật thể nào đó, bộ não của con vật sẽ dần biến mất. Hải tiêu còn có khả năng tự hàn kín các vết thương bằng cách tái tạo tế bào mới. Tuy là động vật nhưng hải tiêu trông khá giống thực vật.

Dù vậy, hải tiêu chỉ đáng yêu khi chúng còn nhỏ mà thôi. Hải tiêu con có hình hài khá giống nòng nọc, với đầy đủ mắt, não và đuôi. Khi đến “tuổi teen”, chúng sẽ gắn cơ thể của mình cổ định vào 1 mặt bám như là thân tàu, đá, san hô… Sau khi đã bám dính vào một mặt cố định nào đó, loài vật này sẽ tiêu biến tất cả các bộ phận khác, chỉ còn lại một đốt thần kinh. Đặc biệt, túi não khi còn nhỏ của chúng sẽ được “tái chế” thành hạch não để hỗ trợ việc tiêu hóa thức ăn. Điều này dẫn đến các lời truyền miệng dân gian cho rằng hải tiêu đã tự “ăn não” của mình.

Hải tiêu có rất nhiều phân loài khác nhau, sinh sống khắp các vùng biển trên thế giới. Khi đã trưởng thành, chúng rất lười di chuyển, mỗi ngày đi được vài centimet đã là hay. Mắt, mũi, môi cũng tiêu biến đi, khiến chúng bị nhầm lẫn là thực vật. Ơ nhưng mà, hình như con người chúng ta – rất nhiều cá nhân khi lớn lên cũng lười vận động thì phải…

Dù vậy, hải tiêu vẫn là động vật tiến hóa bậc cao do có đốt sống. Tên tiếng Anh của nó Ascidian hay là Tunicate, hoặc một tên dễ nhớ hơn là Sea squirt, trong đó “sea” là biển còn “squirt” là tia nước. Vì mỗi lần hải tiêu nhổ mình ra khỏi mặt bám sẽ bắn ra một tia nước nhẹ. Chúng là loài sinh sản hữu tính, mỗi cá thể vừa có trứng vừa có tinh trùng (lưỡng tính). Nhưng vì trứng và tinh trùng không chín đồng thời nên không thể tự thụ, đành phải “yêu” với một con hải tiêu khác.

Hải tiêu (sea squirt)
Hải tiêu (sea squirt)

0/5 (0 Reviews)

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button